Tích dịch xoang ngực ở chó

Đăng bởi admin vào

Thở kiểu hóp ngực. Khi thấy thú bệnh qua khám với dấu hiệu thở hóp phần xương
sườn, tần số thở nhanh, trông thì có vẻ bị viêm phổi nặng nhưng lại không bị ho, thở
không phát ra tiếng kêu gì bất thường, vạch niêm mạc miệng thấy tái ngắt (trắng nhạt) thì
nghi ngờ ngay tích dịch xoang ngực. Với những dấu hiệu trên có đầy đủ cũng đã giúp các
bác sỹ không có máy X quang cũng có thể chẩn đoán đúng ra bệnh này tới trên 90%.
Việc đầu tiên cần thực hiện để chẩn đoán chính xác là chụp X quang, nếu bị tích dịch
khoang lồng ngực bạn sẽ không thể thấy được rõ toàn bộ bóng tim, hãy xem Hình 5.2 và
5.3.
Siêu âm cũng được sử dụng để chẩn đoán, chú ý trong trường hợp này nên bế cho thú
bệnh ở tư thế ngồi để siêu âm.
Không nên siêu âm tư thế nằm ngửa vì khó thở và suy hô hấp trong quá trình siêu âm.
Nằm ngửa rất dễ dẫn tới tử vong vì động mạch và tĩnh mạch chủ sau bị dịch trong xoang
ngực ép vào tạo áp suất dẫn tới thiếu máu về tim gây trụy tuần hoàn. Đồng thời, khi nằm
ngửa thú bệnh sẽ vùng vẫy ít nhiều nên cơ thể sẽ sử dụng nguồn oxy đang cạn kiệt trong
máu, gây tử vong nhanh chóng.
Nên siêu âm tư thế ngồi. Có một ưu điểm khi siêu âm ở tư thế này là dịch sẽ đè lên, và
làm võng cơ hoành xuống về phía bụng, khi siêu âm sẽ dễ dàng quan sát thấy có một đám
dịch nằm ngay phía trước gan (tức là siêu âm thấy dịch trong xoang ngực, không còn
đường cong tăng âm mạnh thường thấy tại vị trí cơ hoành). Khi thấy dịch trong xoang
ngực sẽ kết luận được tràn dịch – tích dịch xoang ngực.
23
Hình 6.1 Viêm phổi rất nặng, nhưng có thể thấy bóng tim trong xoang ngực. Bóng tim trong xoang ngực
chỉ không thể nhìn thấy khi bị tràn dịch xoang ngực, hoặc do khối u phổi.
Hình 6.2 và 6.3 Không thể thấy bóng tim trong xoang ngực.

Khi xác định có dịch trong xoang ngực, bằng mọi giá phải tiến hành lấy mẫu dịch ngực
đặt ống thông vào xoang ngực để hút bớt dịch ra, điều này trước mắt giúp bệnh súc dễ
thở, kỹ thuật cụ thể mời xem cuốn “Ngoại hô hấp” để hiểu rõ hơn về kỹ thuật thực hiện
và kiểm soát rủi ro khi đặt ống thoát dịch vào lồng ngực.
Khi đặt được ống thông, dịch chảy ra sẽ có ba dạng: dịch trắng sữa hoặc hồng là dịch
nhũ trấp (dịch từ ống bạch huyết của hệ bạch huyết chảy ra), phẫu thuật khá phức tạp;
trường hợp thứ hai là dịch trong; trường hợp thứ 3 là máu.
Dạng dịch trong thường nguyên nhân do virus FIP trên mèo (sử dụng test nhanh để
chẩn đoán), với tỷ lệ albumin : globulin (A : G <0,6) sẽ là một thông tin giúp bác sỹ loại
trừ FIP. Nếu test chỉ có 1 vạch, tiến hành phản ứng Rivalta để có định hướng chẩn đoán
bệnh.
 Các bước thực hiện phản ứng
• Pha đều 100 ml nước cất với 3 – 4 giọt acid acetic 10% trong cốc, sau đó đổ vào
2/3 ống nghiệm sạch.
• Ly tâm dịch ngực vừa lấy, thu phần dịch ở trên bằng pipet, nhỏ 1 giọt vào ống
nghiệm đã chuẩn bị ở trên, quan sát trên bảng nền đen.
• Không kết tủa là dịch thấm ít protein.
• Kết tủa trắng đục lơ lửng như khói thuốc là dịch tiết nhiều protein.
 Tiến hành phân tích:
• Dịch thấm do chênh lệch áp suất hoặc giảm áp lực keo ví dụ như giảm albumin
(bệnh thận hư, xơ gan có tràn dịch, suy tim, bệnh tiêu hóa giảm hấp thu). Dịch
25
Dịch
Mô gan
này có màu vàng nhạt, trong suốt, không có fibrinogen, có ít tế bào, nồng độ
glucose tương đồng với hàm lượng glucose huyết thanh.
• Dịch tiết rỉ viêm do giãn mạch, protein xuyên mạch nên nồng độ cao, có các
bạch cầu đa nhân, fibrinogen, nhưng glucose thấp hơn so với glucoso huyết
thanh. Gặp trong nhiễm khuẩn, ung thư, bệnh phổi.
Từ đó ta phân biệt được bệnh do FIP, do bệnh tim – gan – thận – tiêu hoá, hay do bệnh
nhiễm khuẩn lồng ngực – khối u – chấn thương gây viêm.
Về điều trị:
Tập trung kiểm tra thêm để xác định căn nguyên do tim, gan, thận, khối u,…, để có
hướng điều trị riêng cho từng bệnh.

Mèo bị FIP gần 100% sẽ chết vì bệnh này, theo các nghiên cứu thường sống thêm 7-
477 ngày. Chỉ có thể sử dụng các thuốc prednisolone, tylosin hoặc kháng sinh macrolide
có tác dụng “điều hòa miễn dịch” và chống nhiễm khuẩn kế phát, đặt ống thông nuôi ăn
suốt đời nếu thú bệnh biếng ăn và sử dụng dịch truyền dạng keo để giảm lượng dịch
thấm.
 Trường hợp dịch là máu, cần điều trị cầm máu sớm cho con vật:
• Bù huyết tương: 6 – 10 ml/kg (chó to, mèo trên 5kg: lấy máu ly tâm chắt huyết
thanh, huyết tương, pha nước muối 0,9% truyền trong vòng 6 tiếng).
• Truyền máu toàn phần cho chó.
• Vitamin K: 5 mg/kg/SC + 1,5 – 2,5 mg/kg/PO 2 lần/ngày (21 – 30 ngày).
Đánh giá đông máu ngày 1 – 3 trong giai đoạn ổn định và 2 – 3 ngày sau kết thúc
điều trị.
 Trường hợp dịch là nhũ trấp:
• Ăn kiêng giảm chất béo.
• Bổ sung rutin, benzopyrone 50 mg/kg/PO/ 3 lần/ngày.
• Hút dịch 1 tuần 1 lần.
26
• Phẫu thuật thắt ống ngực.

Chuyên mục: bài viết

admin

Là một bác sĩ thú y đầu nghành, được đào tạo bài bản tại một môi trường chất lượng nhất Việt Nam .

0 Bình luận

Trả lời

Avatar placeholder

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi bác sĩ
icons8-exercise-96 challenges-icon chat-active-icon