Tắc ruột ở chó, mèo

Đăng bởi admin vào

Trước khi tìm hiểu kỹ về bệnh tắc ruột ở chó , mèo hãy cùng bệnh viện thú y hà nội tìm hiểu về sinh lý ruột , chức năng ruột …v..v

Trước hết nói đến ruột chúng ta chia làm 2 loại là ruột non và ruột già :

Tìm hiểu về ruột non :

Tá tràng

Cấu tạo ruột non

Đây là phần đầu tiên và là phần ngắn nhất, lớn nhất (về đường kính) của ruột non. Đi từ môn vị đến góc tá – hỗng tràng, hình chữ “C”, dài khoảng 25 cm.

Tá tràng ôm quanh đầu tụy, đi theo một đường gấp khúc gồm bốn phần: trên, xuống, ngang và lên.

  • Phần trên hơi hướng lên trên, từ trái sang phải, giữa môn vị và cổ túi mật. 2/3 đầu tiên có đoạn đầu hơi phình to, có thể di động được gọi là hành tá tràng (ampulla). Vị trí phần trên tá tràng nằm ở bên phải cột sống, ngang mức đốt sống thắt lưng I.
  • Tiếp đến phần xuống, nối với phần trên tạo một góc gọi là góc tá trang trên. Đi từ cổ túi mật, dọc bên phải cột sống từ các đốt sống lưng I-III. Ở phía sau có thận phải, tĩnh mạch chủ dưới. Bên trong phần xuống tá tràng có nhú tá lớn và nhú tá bé.
  • Phần ngang: vắt ngang từ phải sang trái , hơi hướng lên trên. Vị trí trước tĩnh mạch chủ dưới và động mạch chủ bụng, thân đốt sống lưng III – IV. Chỗ gấp góc giữa phần xuống và phần ngang của tá tràng gọi là góc tá tràng dưới. Nơi dễ bị tổn thương nhất của chó , mèo.
  • Cuối cùng của tá tràng là phần lên: chạy dọc bên trái động mạch chủ bụng. Tận cùng nối với hỗng tràng tại góc tá hỗng tràng ở ngang sườn trái thân đốt thắt lưng II.
  • Hỗng tràng và hồi tràng

    4/5 đoạn ở trên gọi là hỗng tràng, ranh giới hai phần không rõ ràng. Có 14 – 16 khúc quai hình chữ U bắt đầu từ nơi tiếp với phần lên của tá tràng và tận hết ở hồi tràng đổ vào manh tràng. Hỗng – hồi tràng được treo vào thành lưng bởi mạc treo ruột non, phủ phía trước bởi mạc nối lớn.

Tìm hiểu về ruột già :

Ruột già được chia làm 3 phần chính như sau : manh tràng, kết tràng và trực tràng.

Giữa ruột non và ruột già có van hồi – manh giữ không cho các chất ở ruột già ngược trở lại ruột non.

 

Manh tràng

Có hình dạng giống như một cái túi tròn và tiếp xúc với hỗng tràng, đường kính khoảng 7cm.  Ruột thừa từ bờ trong của manh tràng, nơi gặp nhau của ba dải cơ dọc. Ruột thừa hướng xuống dưới, thông với lòng manh tràng của chó , mèo.

 Kết tràng

Đây là bộ phận chính của ruột già, được chia làm 4 phần như sau : kết tràng lên, kết tràng ngang, kết tràng xuống và kết tràng xích ma. Kết tràng đi từ manh tràng đi lên dọc theo bên phải ổ bụng cho đến khi gặp gan, chỗ gặp gỡ bị uốn cong.

Sau đó nó trở thành kết tràng ngang, đi ngang qua ổ bụng. Khi đến gần lách ở bên trái, kết tràng quay xuống để tạo thành kết tràng xuống. Nó đi vào khung chậu nó có hình chữ S tạo thành kết tràng xích ma.

Trực tràng

Kết tràng xích ma nối tiếp với trực tràng, là một ống thẳng, dài khoảng 15 cm và kết thúc ở hậu môn mở ra ngoài cơ thể.

Ngoài ra bên trong lòng ống tiêu hóa còn có sự hiện diện của các vi khuẩn giúp góp phần tiêu hóa thức ăn của chó , mèo.

Dịch ruột già

Trong ruột già dịch không có enzyme tiêu hoá mà chỉ có chất nhầy để bảo vệ niêm mạc.

Bệnh tắc ruột ở chó, mèo là bệnh gì ?

Theo kinh nghiệm, khi thấy triệu chứng nôn mửa và chán ăn, điều trị thuốc 1 – 2 ngày
không đỡ thì cần nghĩ ngay tới bệnh tắc ruột.
Trước tiên cần định hình rằng, tắc ruột không bao giờ nôn ra bọt, tắc ruột cũng không
gây ra cường độ nôn đồng đều ở mọi vị trí tắc; mà tùy vị trí tắc sẽ gây ra số lần nôn khác
nhau. Cùng xem các ví dụ sau để hình dung được mối liên hệ giữa vị trí tắc và cường độ
nôn trong bệnh tắc ruột.
Xét ví dụ, thú bệnh bị tắc tại đường ra dạ dày (tức là tắc tại hạ vị của dạ dày) sẽ gây
nôn cấp tính, thậm chí ngày có thể nôn tới 10 bãi, đặc biệt sau khi ép ăn uống sẽ nôn. Lý
giải vì khi tắc đường ra dạ dày, dịch dạ dày tiết ra nhiều sẽ kích ứng thần kinh gây phản
xạ nôn, hoặc khi cố bơm cho ăn uống sẽ gây đầy bụng, đây cũng là lý do khiến cường độ
nôn tăng lên mỗi khi ép ăn.
Ở một ví dụ khác, nếu bị tắc tại tá tràng sẽ gây nôn ít hơn, đặc trưng của tắc tại tá tràng
sẽ nôn ra những “bãi dịch lớn” có màu như phân (với các thành phần trộn lẫn gồm dịch
mật, dịch tụy, dịch dạ dày, thức ăn tiêu hóa dở), với cường độ nôn 1 – 3 bãi mỗi ngày, sẽ
nôn nhiều hơn nếu ép ăn uống.
Tắc tại các đoạn sâu hơn như không tràng, hồi tràng sẽ có đặc điểm không nôn, vì thức
ăn và nước, các chất tiết của dạ dày vẫn được đoạn ruột trên hấp thu, thường 1 tuần nôn 1
– 2 lần, tiến triển của bệnh thường âm ỉ khó phát hiện.
Tiếp tới tắc đại tràng, do cấu trúc đại tràng lớn hơn các đoạn ruột khác, nên hầu như
không thể tắc dị vật, mà chỉ có thể bị mắc dị vật gây kích thích đại tràng tạo ra triệu
chứng mót rặn. Trong trường hợp tắc phân sẽ chỉ bị nôn khi lượng phân tích ở đại tràng
đã quá nhiều, phân dồn thành khối kích thích trực tiếp vào dạ dày mới gây nôn.
Như vậy, tùy từng vị trí tắc mà biểu hiện triệu chứng sẽ khác nhau. Cần xác định rằng,
phân của thú bệnh trong trường hợp tắc ruột rất đa dạng tùy vị trí, mức độ, bệnh đi kèm,
5
biến chứng trong ruột mà có các hình thái và màu sắc, và cường độ đi phân khác nhau.
Tóm lại, phân không thể được sử dụng để làm dấu hiệu nhận biết tắc ruột.
Thứ hai, trong kiểm tra chẩn đoán tắc ruột, chắc chắn phải có động tác sờ nắn các nội
tạng trong ổ bụng, chú ý tới dấu hiệu “đoạn xúc xích” vì nếu lồng ruột sẽ tạo ra đoạn ruột
như đoạn xúc xích có thể sờ thấy, hoặc sẽ thấy một khối dị vật nếu là tắc dị vật. Dấu hiệu
này được mô tả như sau, đối với mèo hoặc chó nhỏ, bác sỹ lâm sàng sẽ sờ bóp xem có
đoạn ruột nào bất thường hay không. Theo số liệu thống kê có tới 53% sẽ sờ thấy đoạn
ruột bị lồng hoặc vị trí ruột bị tắc. Khi sờ thấy, cần định hình độ dài và độ dày của khối
đang sờ thấy đó, hãy bóp để kiểm tra đặc tính của khối đó, vì rất dễ nhầm dị vật với phân.
Phân sẽ bị bóp méo và hay dùng phương pháp này để chẩn đoán phân biệt giữa dị vật và
phân.
Siêu âm ổ bụng tổng quát là bước cần thực hiện để phát hiện các dấu hiệu bất thường.
Và siêu âm đặc biệt hiệu quả khi bạn cầm khối nghi ngờ gây tắc ruột ở trên bằng tay
thuận, tay không thuận cầm đầu dò siêu âm đưa vào kiểm tra tính chất của khối. (1) Nếu
là dị vật sẽ xuất hiện bóng dị vật giống như khi siêu âm vào viên sỏi trong bàng quang, sẽ
tạo ra vệt che hết các chi tiết của các mô nằm dưới dị vật. (2) Nếu là lồng ruột, dù máy
siêu âm kém chất lượng nhất cũng có thể thấy được khá nhiều lớp ruột lồng lên nhau,
“dạng ống trong ống” và một ví dụ minh họa được thấy rõ nét ở hình 1.5 và 1.6.
Nếu bạn có máy X quang thì đây là công cụ giúp tự tin hơn trong chẩn đoán. (1) Với
tắc dị vật là kim loại thì dễ dàng thấy trên phim chụp X quang không chuẩn bị. (2) Với
tắc ruột hoàn toàn sẽ luôn tạo ra một đoạn ruột căng chứa nhiều khí bất thường, đây là
dấu hiệu đặc trưng. (3) Với trường hợp tắc do dị vật không cản tia như tắc miếng xốp, tắc
quả bóng bàn trong ruột, hay lồng ruột thì cần phải chụp X quang có uống chất cản quang
bari.
Để xác định tắc ruột, cần chụp số phim tối thiểu như sau: sau khi uống cản quang với
liều 10 cc/kg (nên sử dụng loại bari pha sẵn thành phẩm, bari bột rẻ hơn có thể tự pha
nhưng hiệu quả không cao), chụp sau khi uống 4 tiếng, nếu cản quang xuống tới đại
tràng, kết luận là không tắc ruột, nhưng nếu chưa xuống tới đại tràng thì cần chụp thêm
một phim nữa sau 4 tiếng kể từ khi chụp phim thứ nhất. Nếu tắc ruột, cản quang cũng sẽ
không xuống được đại tràng, và vị trí cản quang ứ lại được kết luận là vị trí tắc của ruột.
6
Một số trường hợp cần chẩn đoán phân biệt đó là viêm tụy, viêm tụy sẽ gây ảnh hưởng
tới toàn bộ nhu động ruột và nhu động dạ dày. Nói cụ thể thêm thì viêm tụy sẽ gây mất
hoàn toàn chức năng nhu động của dạ dày và ruột, từ đó sẽ gây tắc sinh lý (tắc do thần
kinh – cơ), không phải tắc cơ học. Để chẩn đoán phân biệt được viêm tụy thì phải kiểm
tra, có 3 dấu hiệu điển hình của viêm tụy: (1) Sờ bụng thấy đau, đặc biệt khi ấn vào vùng
bụng trên, (2) nôn rất nhiều mang tính chất nôn cấp tính, và (3) men lipase, amylase tăng
rất cao.
Về xét nghiệm, nhìn chung nếu bị tắc ruột các dấu hiệu sau được thấy, nhưng đó
không phải là dấu hiệu để giúp chẩn đoán, chỉ giúp bác sỹ nhận định được mức độ
nghiêm trọng của bệnh để tiến hành hỗ trợ cân bằng dịch và axit base trong cơ thể, cụ thể
các thông số xét nghiệm sẽ thấy gồm: tăng ure (trong một số máy xét nghiệm sẽ chạy ra
chỉ số BUN) và tăng creatinine, trọng lượng riêng nước tiểu sẽ tăng, và nguyên nhân tăng
các chỉ số này là do cơ thể mất nước, thành phần máu cô đặc chứ bản chất thận bình
thường; lactate máu ít nơi đo được nhưng nó sẽ tăng nếu đang bị lồng ruột. Giảm albumin
máu nếu xuất huyết nhiều hoặc bị thời gian dài vì albumin rò rỉ từ máu vào lòng ruột tại
vị trí ruột bị viêm nhiễm. Giảm clo máu, hạ kali máu, nhiễm kiềm chuyển hóa nếu nôn
nhiều, vì các ion này có nhiều trong dạ dày, nôn càng nhiều bị giảm càng nghiêm trọng.
Điều trị thử cũng là một phương pháp chẩn đoán, nôn thông thường sẽ hết sau khi sử
dụng kháng sinh và tiêu viêm, nhưng điều trị 2 ngày vẫn thấy nôn, kết hợp thấy các dấu
hiệu đã kiểm tra thấy ở trên thì gần như chắc chắn tắc ruột. Mổ điều trị hoặc mổ khám để
tìm ra bệnh cũng là phương pháp trực quan đưa ra chẩn đoán cuối cùng nếu các phương
pháp ở trên không chẩn đoán chắc chắn được bệnh.
Về phần điều trị, khi phát hiện ra tắc ruột, tùy nguyên nhân gây tắc cần phải: mổ bỏ dị
vật, cắt khối u, loại bỏ các mô nghi ngờ không thể sống được, hoặc tiên tiến hơn thì lấy
mẫu gửi đi sinh thiết. Nhưng trước khi mổ cần thực hiện một số công việc bắt buộc sau
đây:
• Giảm đau nên dùng trước, trong và sau phẫu thuật dù con vật có biểu hiện đau hay
không. Sau phẫu thuật thường đặt ống thông từ ổ bụng ra để bơm Novocain
2giờ/lần giúp giảm đau ổ bụng.
7
• Trước khi can thiệp, cần ổn định dịch thể, điện giải và axit-bazơ, mục tiêu trong 6
tiếng sẽ đưa các thông số ít nhất phải về được giới hạn thấp nhất của khoảng tham
chiếu.
• Kháng sinh phổ rộng chỉ được dùng (càng sớm càng tốt) nếu nghi tắc do dị vật sắc
nhọn, trong trường hợp tắc hoặc lồng ruột sẽ không dùng kháng sinh trừ khi thấy
rõ ràng các dấu hiệu của nhiễm trùng (ví dụ: sốt, bạch cầu trung tính tăng cao hoặc
giảm mạnh).
• Nên dùng ức chế bơm proton dễ dàng mua được (ví dụ như Omeprazole 1±3
mg/kg PO/12–24h; hoặc Esomeprazole 1 mg/kg/24h PO, IV) để chống/ chữa loét
tiêu hóa – đây là thuốc kháng axit dạ dày, vì axit dạ dày tiết ra sẽ càng gây nôn và
gây loét tiêu hóa nhiều hơn.
• Vết mổ đường tiêu hóa nếu thất bại sẽ diễn biến xấu trong khoảng 3 – 5 ngày sau
mổ. Cần theo dõi các dấu hiệu hôn mê, nôn tái phát và sốt. Luôn đặt ống thông ổ
bụng trong ca mổ để thăm dò dịch bụng hàng ngày giúp phát hiện bục vết mổ ruột
sớm nhất.
Chú ý 1: Một số điều cấm kỵ bạn cần tránh như sau: Chống viêm không steroid không
nên dùng do tác dụng phụ lên niêm mạc tiêu hóa (cụ thể là gây loét tiêu hóa) và suy chức
năng thận vì đa số các thú bệnh tắc ruột đều bị mất nước, huyết động bất ổn nên thận dễ
bị tổn thương. Chất keo nên được sử dụng thận trọng, và tốt nhất khuyên không nên dùng
trừ khi đã được đào tạo bài bản, đặc biệt không dùng trong trường hợp nghi ngờ nhiễm
trùng huyết do liên quan đến tổn thương thận cấp tính.
Chú ý 2: Không được cho ăn vì sẽ gây nôn nhiều gây mất nhiều chất điện giải hơn,
không được dùng thuốc chống nôn vì bản chất đa số các thuốc chống nôn có tác dụng co
thắt cơ vòng thực quản, tăng nhu động ruột và dẫn tới lồng ruột nặng hơn, ruột dễ bị vỡ
tại nơi tắc dị vật hơn. Chỉ được dùng để tăng nhu động ruột sau khi phẫu thuật.
8
Một số hình ảnh tắc ruột điển hình có thể bắt gặp khi chẩn đoán:

Chuyên mục: bài viết

admin

Là một bác sĩ thú y đầu nghành, được đào tạo bài bản tại một môi trường chất lượng nhất Việt Nam .

0 Bình luận

Trả lời

Avatar placeholder

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi bác sĩ
icons8-exercise-96 challenges-icon chat-active-icon